Khái niệm sáng chế/giải pháp hữu ích

Bài viết này giúp bạn không bị nhầm lẫn giữa 2 khái niệm sáng chế và giải pháp hữu ích, có thể dễ dàng phân biệt sự khác nhau giữa 2 khái niệm này.

1. Khái niệm sáng chế / giải pháp hữu ích

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.

Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện là có tính mới; có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp.

Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện là có tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp.

2. Tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế

Để được bảo hộ, một phát minh ít nhất phải đáp ứng các tiêu chí về tính mới trên toàn thế giới và khả năng áp dụng công nghiệp. Ngoài ra, phát minh đó phải có trình độ sáng tạo. Những tiêu chí được quy định cụ thể như sau:

(i) Tính mới

Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.\

Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.

Hơn nữa, sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu:

  1. Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký;
  2. Sáng chế được người có quyền đăng ký công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
  3. Sáng chế được người có quyền đăng ký trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày công bố.

(ii) Tính sáng tạo

Sáng chế được coi là có tính sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.

Sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

(iii) Khả năng áp dụng công nghiệp

Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định.

3. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế

Theo quy định hiện nay của Luật SHTT, các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:

  1. Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
  2. Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;
  3. Cách thức thể hiện thông tin;
  4. Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;
  5. Giống thực vật, giống động vật;
  6. Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;
  7. Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.

* Cũng theo quy định của Luật SHTT số 50/2005 thì một phát minh sẽ không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế nếu phát minh này trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng hoặc làm tổn hại đến quốc phòng và an ninh quốc gia.

4. Quyền nộp đơn cấp bằng sáng chế

Quyền nộp đơn sáng chế trước hết thuộc về tác giả hoặc người thừa kế hợp pháp của tác giả.

Nếu sáng chế được tạo ra khi tác giả thực hiện nhiệm vụ do tổ chức mà tác giả là thành viên giao cho hoặc được tác giả tạo ra chủ yếu do sử dụng kinh phí, phương tiện vật chất của tổ chức thì quyền nộp đơn đăng ký sáng chế đó thuộc về tổ chức giao việc hoặc tổ chức cung cấp kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả.

Nếu sáng chế được tạo ra do tác giả thực hiện hợp đồng thuê việc với tổ chức hoặc cá nhân khác và trong hợp đồng không có thoả thuận nào khác thì quyền nộp đơn sáng chế thuộc về tổ chức hoặc cá nhân đã ký hợp đồng đó với tác giả. Ngoài ra, người nộp đơn sáng chế có thể chuyển giao quyền nộp đơn kể cả đơn đã nộp cho cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác thông qua văn bản chuyển giao quyền nộp đơn.

Nếu sáng chế sử dụng kinh phí Nhà nước thì quyền nộp đơn sáng chế thuộc về Nhà nước.

5. Nguyên tắc “Nộp đơn đầu tiên”

Việt Nam có áp dụng nguyên tắc “Nộp đơn đầu tiên”. Điều này có nghĩa là sáng chế sẽ được cấp văn bằng bảo hộ cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất. Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký bảo hộ sáng chế cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo thoả thuận của tất cả những người nộp đơn. Nếu không thoả thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.

6. Quyền ưu tiên

Người nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế được hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc một quốc gia có một thỏa thuận với Việt Nam để áp dụng quy định đó, với điều kiện người nộp đơn là công dân Việt Nam hoặc một nước thành viên.

Để được hưởng quyền ưu tiên theo Công ước Paris, đơn đăng ký sáng chế tiếp theo phải được đệ trình trong vòng 12 tháng kể từ ngày nộp đơn của đơn đầu tiên. Trong một đơn đăng ký sáng chế, người nộp đơn có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở nhiều đơn khác nhau được nộp sớm hơn với điều kiện phải chỉ ra nội dung tương ứng giữa các đơn nộp sớm hơn ứng với nội dung trong đơn.

Đối với đơn theo Hiệp ước về hợp tác sáng chế (PCT), thời hạn đăng ký vào Việt Nam theo quy định tại Chương I và Chương II của PCT là 31 tháng tính từ ngày ưu tiên. Tuy nhiên, kể từ ngày 09/05/2007, đơn đăng ký có thể nộp muộn hơn thời gian này 06 tháng, tuy nhiên người nộp đơn phải nộp thêm phí nộp muộn.

7. Quyền của chủ sở hữu sáng chế

Chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế có quyền sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng sáng chế đã được bảo hộ. Các chủ sở hữu cũng có quyền ngăn chặn người khác sử dụng sáng chế mà không nhận được ủy quyền của riêng mình và có quyền xử lý nếu điều này xảy ra.

Việc sử dụng sáng chế là thực hiện các hành vi sau đây:

  • Sản xuất sản phẩm bằng việc sử dụng chất, công nghệ, thiết bị dựa trên sáng chế được bảo hộ;
  • Đưa vào lưu thông và quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm được sản xuất dựa trên sáng chế được bảo hộ;
  • Nhập khẩu sản phẩm được tạo ra dựa trên sáng chế được bảo hộ.

8. Nghĩa vụ của chủ sở hữu sáng chế

Chủ sở hữu bằng sáng chế có nghĩa vụ:

Ngoài ra, chủ sở hữu bằng sáng chế (gọi là chủ sở hữu sáng chế cơ bản) có nghĩa vụ cho phép chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc sử dụng sáng chế của mình với điều kiện phải chứng minh được sáng chế phụ thuộc tạo ra một bước tiến quan trọng về kỹ thuật so với sáng chế cơ bản và có ý nghĩa kinh tế lớn.

Trong trường hợp chủ sở hữu sáng chế cơ bản không đáp ứng yêu cầu của chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không có lý do chính đáng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế đó cho chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không cần được phép của chủ sở hữu sáng chế cơ bản.

9. Hạn chế quyền của chủ sở hữu đối với quyền sáng chế

Các quyền của chủ sở hữu về sáng chế được đề cập ở trên bị giới hạn bởi quyền sử dụng trước, chuyển giao không tự nguyện (bắt buộc), và một số quyền khác như sau:

9.1. Quyền sử dụng trước

Việc thực hiện quyền của người sử dụng trước sáng chế không bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế. Trường hợp trước ngày đơn đăng ký sáng chế được công bố mà có người đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế đồng nhất với sáng chế trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người đó có quyền tiếp tục sử dụng sáng chế trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc đã chuẩn bị để sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu sáng chế được bảo hộ.

Người có quyền sử dụng trước sáng chế không được phép chuyển giao quyền đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển giao quyền đó kèm theo việc chuyển giao cơ sở sản xuất, kinh doanh nơi sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng sáng chế. Người có quyền sử dụng trước không được mở rộng phạm vi, khối lượng sử dụng nếu không được chủ sở hữu sáng chế cho phép.

9.2. Chuyển giao không tự nguyện

Quyền sử dụng sáng chế mà không cần được sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu:

  • Việc sử dụng sáng chế nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội;
  • Người sở hữu bằng sáng chế không thực hiện nghĩa vụ sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ để đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội sau khi kết thúc 04 năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký sáng chế và kết thúc 03 năm kể từ ngày cấp bằng độc quyền sáng chế;
  • Người có nhu cầu sử dụng sáng chế không đạt được thoả thuận với người sở hữu sáng chế về việc ký kết hợp đồng sử dụng sáng chế mặc dù trong một thời gian hợp lý đã cố gắng thương lượng với mức giá và các điều kiện thương mại thoả đáng;
  • Người sở hữu sáng chế bị coi là thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

9.3. Các quyền khác

Các trường hợp sau không được coi là hành vi xâm phạm bằng sáng chế:

  1. Sử dụng sáng chế mục đích phi thương mại, hoặc cho các mục đích của việc đánh giá, phân tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm, sản xuất thử nghiệm hoặc thu thập dữ liệu để thực hiện các thủ tục để được cấp giấy phép sản xuất, nhập khẩu, tiếp thị sản phẩm;
  2. Sử dụng sản phẩm do chủ sở hữu sáng chế, người được chuyển giao quyền sử dụng, người được cấp li xăng không tự nguyện, người có quyền sử dụng trước đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài;
  3. Việc sử dụng chỉ nhằm mục đích duy trì hoạt động của các phương tiện vận tải của người nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thời ở trong lãnh thổ Việt nam.

10. Hủy bỏ/đình chỉ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế

Sau khi sáng chế được cấp bằng độc quyền, bất kì ai tại bất kỳ thời gian nào đều có quyền nộp đơn với Cục SHTT để hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ hoặc đình chỉ bằng sáng chế như:

10.1. Hủy bỏ

Các căn cứ để hủy bỏ bằng sáng chế:

  • Người được cấp văn bằng bảo hộ không có quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ và cũng không được người có quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ chuyển nhượng quyền đó;
  • Sáng chế không đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ.

Bằng sáng chế sẽ bị hủy bỏ một phần nếu phần này không đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ.

10.2. Đình chỉ

Các căn cứ để đình chỉ bằng độc quyền:

  • Chủ sở hữu không nộp lệ phí duy trì hiệu lực theo quy định;
  • Chủ sở hữu tuyên bố từ chối trách nhiệm các quyền về bằng độc quyền;
  • Chủ sở hữu không còn tồn tại, và không có người thừa kế hợp pháp.

11. Vi phạm bản quyền sáng chế

Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế:

  • Sử dụng sáng chế được bảo hộ trong thời hạn Bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích còn hiệu lực mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu;
  • Sử dụng sáng chế mà không trả tiền đền bù theo quy định.

Theo quy định pháp luật hiện hành: Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt nam có thể được xử lý bằng biện pháp hành chính, dân sự và hình sự. Nếu phát hiện ra các hành vi vi phạm bản quyền sáng chế, chủ sở hữu giải quyết theo hướng dẫn ở bài viết này: Thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Nếu bạn còn thắc mắc liên quan đến sáng chế, nhãn hiệu, thương hiệu,… hoặc bất cứ vấn đề nào của Sở hữu trí tuệ thì liên hệ ngay InvestOne Law Firm để được luật sư của chúng tôi tư vấn hoàn toàn miễn phí.

Khái niệm sáng chế/giải pháp hữu ích
Chấm điểm bài viết

Bình luận

avatar
0904.55.99.50